|
| Một nhà văn trẻ, không phải là người Tày như Dương Thuấn, cũng không phải là người dân tộc thiểu sổ, là người Kinh "chính hiệu" nhưng đã bị thơ Dương Thuấn "cảm hóa". Để rồi, một truyện ngắn được lấy cảm hứng từ sông Năng trong thơ Dương Thuấn ra đời, được rất nhiều người yêu thích. Dương Thuấn từng bộc bạch: "Ta là chàng trai của núi/ Chỉ biết hát lời cho quả sai". Bởi vậy, cũng có thể xem đây như là "quả sai" mà anh đã tâm niệm.
1. "Những tối trăng vàng em và tôi cùng tắm/ Nước sông làm da thịt em trắng thơm tho/ Tôi và em yêu nhau rồi đi xa quê/ Bây giờ mỗi đêm nằm lại nghe tiếng sóng/ Tiếng thác réo chui vào trong chăn ấm thành giấc mơ".
Những câu thơ ngân lên như những câu hát da diết cũng chính là dòng hoài niệm của một người con xa quê đau đáu về làng bản, về phong tục tập quán, về sông Năng... có lẽ suốt đời không khi nào nguôi quên. Người "ca sĩ không chuyên" ấy chính là nhà thơ Dương Thuấn. Anh hát không biết mệt mỏi bên dòng Năng thân thương.
Nhà triết học người Hy Lạp, Hêraclit từng nói: "Không ai tắm hai lần trên một dòng sông". Nhưng đến với thơ Dương Thuấn, người đọc như luôn luôn được tắm, được vẫy vùng, được thanh lọc tâm hồn bởi dòng Năng cứ trở đi trở lại đầy vướng vít.
Hát với sông Năng là tên một bài thơ, cũng là nhan đề tập thơ thứ 9 của anh. Có lẽ với tập thơ này, Dương Thuấn thể hiện khá rõ cả tài và tình của mình. Một mặt, tập thơ khắc họa rõ nhất phong cách thơ Dương Thuấn. Anh cứ lặng lẽ quan sát, âm thầm suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người.
Cũng có lúc, anh giống như một người họa sĩ, tỉ mẩn đưa những nét bút vừa cụ thể vừa khái quát, vừa tinh tế vừa ấm ấp để phác họa quê hương, làng bản của mình. Đặc biệt, cái tình trong thơ Dương Thuấn thì không ai có thể phủ nhận.
Có lúc, đó là sự gắn bó, hoà nhập giữa con người với thiên nhiên. Lúc khác lại là sự hồi tưởng, nhớ nhung của một người con đi xa ngoái nhìn về quê hương, làng bản với biết bao kỷ niệm sâu nặng, với những con người, những tập tục, những ký ức không thể quên. Và ngời ngợi trong đó là tình yêu chân chất, mộc mạc của người con được sinh ra từ sông Năng, được tắm nước sông Năng và giờ đây hát lời sông Năng.
Những hình ảnh hết sức giản dị, đầy trìu mến được khơi gợi từ con sông Năng hiền hoà, thơ mộng: những người phụ nữ đập áo bên sông Năng, tiếng quay sa, ánh trăng khuya... có sức cảm hóa mạnh mẽ nơi người đọc.
Một nhà văn trẻ, không phải là người Tày như Dương Thuấn, cũng không phải là người dân tộc thiểu sổ, là người Kinh "chính hiệu" nhưng đã bị thơ Dương Thuấn "cảm hóa". Để rồi, một truyện ngắn được lấy cảm hứng từ sông Năng trong thơ Dương Thuấn ra đời, được rất nhiều người yêu thích. Dương Thuấn từng bộc bạch: "Ta là chàng trai của núi/ Chỉ biết hát lời cho quả sai". Bởi vậy, cũng có thể xem đây như là "quả sai" mà anh đã tâm niệm.
2. Tôi ngồi đối diện với Dương Thuấn. Nhìn bề ngoài, không ai nghĩ anh là người Tày, là con của bản Hon, Ba Bể (Bắc Kạn). Ra đường hay tới công sở, anh luôn luôn ăn mặc lịch lãm: áo sơ mi đóng thùng, tóc được chải vào nếp, điện thoại trong túi đổ chuông liên tục. Chỉ có cách nói chuyện giản dị nhưng hết sức thẳng thắn, "hỏi gì đáp nấy" mới là minh chứng nho nhỏ để người nghe tin Dương Thuấn là người Tày. Nhưng nếu còn mối nghi ngờ nào đó nữa thì cách tốt nhất là nên tìm thơ anh mà đọc.
Thật lạ, qua bao nhiêu năm lăn lộn, bươn bả với cuộc sống đô hội nhưng hồn thơ Dương Thuấn vẫn luôn đượm màu sắc dân tộc, vẫn luôn hướng về bản Hon, về sông Năng, nơi chôn nhau cắt rốn. Có lẽ, không phải ai cũng có tài cất giữ hồn thơ, để không bị đô thị hóa mà ngày càng nồng nàn, chín đượm như Dương Thuấn.
Dương Thuấn về Hà Nội từ năm 1989, lúc đó anh thi đỗ và theo học tại Trường Viết văn Nguyễn Du (nay là Khoa Sáng tác - Lý luận Phê bình Văn học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) và trong kỳ thi tốt nghiệp ra trường anh là Thủ khoa thơ.
Năm giám khảo là năm nhà thơ, nhà nghiên cứu rất uy tín đã đồng tình hạ 5 điểm 10 cho tác phẩm thi tốt nghiệp ra trường của anh là tập thơ Đi tìm bóng núi. Điều chưa từng xảy ở ngôi trường này xưa nay.
Kể từ đây, anh bắt đầu lao động cật lực trên con đường chữ nghĩa. Nhưng ít ai biết Dương Thuấn chạm ngõ làng văn không phải bằng thơ mà bằng truyện ngắn. Và cũng ít ai biết, anh đến với văn chương từ hồi còn là sinh viên Trường Sư phạm.
Đến giờ anh vẫn chưa quên truyện ngắn Mùa hoa mạ thứ ba đầu tiên viết về hoa mạ, một loài hoa ở bản Hon giống như hoa phượng nhưng cây và lá thì to hơn, chỉ nở vào tháng ba. Có nhiều nhà thơ, vì cảm xúc ào ạt, tình cảm tuôn trào, muốn nói thật nhiều điều ngoài khuôn khổ một bài thơ, đành mượn hình thức văn xuôi để thể hiện.
Mặc dù chuyện thành, bại là điều chưa nói đến. Nhưng Dương Thuấn thì ngược lại. Có lẽ vì thơ anh đã nói lên được tất cả những gì anh muốn nói. Chính vì vậy, việc dứt hẳn với văn xuôi để sang làm thơ không làm anh tiếc nuối nhiều.
Anh có cách nói riêng, hầu như chưa lẫn vào ai và cũng không ai có thể lẫn được. Đọc thơ anh, dễ khiến người ta nghĩ rằng việc làm thơ của Dương Thuấn "dễ như trở bàn tay". Sở dĩ nói như vậy vì đọc thơ anh, người đọc bắt gặp ở đó một lối quan sát rất gần, rất thực, thực như chính suy nghĩ, cách nói của người miền núi quê anh. Có cảm giác như anh đi đâu, nhìn vào đâu cũng có thể "nhả" ra thơ (!).
Tôi trộm nghĩ, giả sử ai đó muốn tìm hiểu thơ Dương Thuấn bằng lối diễn giải thì có lẽ sẽ gặp thất bại ngay từ đầu. Bởi thơ anh không có chỗ cho những uẩn khúc, vòng vo. Nhưng có lẽ, sự độc đáo của thơ Dương Thuấn cũng chính là ở sự gần và thực ấy. Thực nhưng không thô, không sơ sài. Giản dị nhưng đầy sức lôi cuốn, đặc biệt ở cách sử dụng ngôn từ ví von, so sánh giàu tính biểu cảm.
3. Gần 20 năm lặn lội làm thơ, làm báo ở Hà Nội, Dương Thuấn đã "hát" không biết mệt mỏi để có "quả sai". "Chàng trai núi" ấy đang có một cuộc sống mà không phải ai cũng có được: người vợ hiền đảm đang, cả hai con (một trai một gái) đều ngoan ngoãn, học giỏi và đã đi làm. Anh hạnh phúc vì điều đó.
Người xưa quan niệm: "Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà/ Xong ba việc ấy mới là đàn ông". Có thể nói, Dương Thuấn đã "hoàn thành xuất sắc" ba việc ấy để trở thành một người đàn ông, một người chồng, người bố chân chính.
Anh không giấu được mừng vui khi "khoe" với tôi về căn nhà khang trang ở phố Chùa Hà mà anh vừa mua được từ số tiền dành dụm bao nhiêu năm. Đó là "quả sai" mà anh dành cho vợ con, những người thân yêu của mình.
Nhưng, để có được "quả sai" như ngày hôm nay, Dương Thuấn vẫn không quên những ngày cơ hàn trước kia. Anh ra trường khi còn rất trẻ, mới 21 tuổi đã trở thành một "ông giáo" dạy Văn cấp 3. Bởi thế, không ít lời chọc ghẹo của học trò khiến thầy giáo trẻ đỏ bừng mặt. Trước khi chuyển xuống Hà Nội, Dương Thuấn đã có 4 năm dạy Văn tại Trường cấp 3 Nà Phặc, 3 năm tại Trường cấp 3 Ba Bể.
Hồi mới ra trường, lương ba cọc ba đồng (60 đồng/tháng lương) nên cuộc sống của anh khá vất vả. Để cải thiện cuộc sống, Dương Thuấn một mình vào các làng bản đặt mua sa nhân, sau đó mang nhập cho các tay lái buôn. Công việc thuận lợi nên cuộc sống của anh khấm khá dần lên, thậm chí anh còn có thể làm nhà và mua sắm nhiều vật dụng khác.
Mặc dù vậy, anh vẫn phải đi buôn lén lút vì hồi đó cán bộ Nhà nước bị cấm kiếm tiền, ai kiếm ra tiền thì bị cho là xấu. Nhưng Dương Thuấn không "đầu hàng", có lẽ vì học được đức tính cần cù, chịu khó từ người bố của mình.
Dẫu cuộc sống còn khó khăn nhưng ông không để con mình phải thất học và luôn luôn căn dặn các con: "Làm người phải lưu danh muôn thuở". Nhờ sự chịu thương chịu khó của bố mẹ, mười anh em Dương Thuấn đều được học hành đầy đủ và đến nay ai cũng có nghề nghiệp ổn định.
4. Từ "Hon" trong tiếng Tày có nghĩa là "mào", ý nói bản Hon toàn những người có mào. Theo tiếng Kinh thì đó là những người có "máu mặt", biết ăn nói và làm được việc. Bởi thế, khác với nhiều bản khác, cuộc sống ở bản Hon từ trước tới nay đều khấm khá. Chỉ có điều, giao thông, cơ sở hạ tầng ở đây lại yếu kém.
Thuở nhỏ, Dương Thuấn đã tỏ ra là một cậu học trò hiếu học. Cả huyện chỉ có một trường cấp 2, sách vở thiếu thốn, đường sá đi lại khó khăn nên không ít cô cậu học trò miền núi đành phải nghỉ học. Còn Dương Thuấn vẫn kiên trì bám lớp. Hằng ngày, anh dậy từ sáng sớm, mặc đường đi lầy lội, hay phải trèo đèo lội suối, Dương Thuấn cởi quần dài buộc trên vai rồi bon bon bước đi. Hay có hôm phải quấn ni lông trên người để tránh sương rơi làm ướt quần áo.
Chính tinh thần hiếu học đã giúp Dương Thuấn vượt qua những khó khăn ấy. Đến giờ anh vẫn bảo: "Ngày ấy, không ai nghĩ là có được như ngày hôm nay!".
Người Tày có nhiều phong tục mà đến giờ, cho dù đã ở phố thị gần 20 năm, tiếp thu nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng Dương Thuấn vẫn không thể quên. Trong đó, tục đi Tết mẹ vợ năm nào anh cũng thực hiện đầy đủ.
Người Tày rất quý bố mẹ vợ, mỗi lần đi thăm Tết thường có quà là một con gà trống thiến béo và to hay một miếng thịt lợn dài đúng bằng thân con lợn do mình nuôi. Phong tục truyền thống này cũng được anh đưa vào thơ: "Ai đã bắt con gái người ta về nhà mình ở/ Đến thăm mẹ vợ rồi sẽ yêu vợ mình hơn...".
Thơ dân tộc thiểu số trong những năm gần đây đang có nhiều khởi sắc nhưng cũng có nhiều vấn đề đáng bàn. Trong đó, việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ được quan tâm nhiều hơn cả. Nhiều nhà thơ dân tộc khi bắt đầu viết, họ nóng ruột muốn được mọi người biết đến nên viết bằng tiếng Kinh.
Dương Thuấn phản đối: "Vai trò trách nhiệm của nhà thơ, nhà văn là phải bảo tồn ngôn ngữ. Việc đưa sách văn học vào trong nhà trường cũng không thể bảo tồn được. Trách nhiệm đó thuộc về các nhà văn, nhà thơ".
Hiện nay, nhà thơ Dương Thuấn thông thuộc 4 thứ tiếng nhưng anh vẫn không quên gìn giữ và trau chuốt tiếng Tày từng ngày. Trong nhà anh có rất nhiều đĩa tiếng Tày, anh vẫn thường mở ra nghe. Hoặc đọc và sáng tác thơ bằng tiếng Tày (rồi sau đó mới dịch ra tiếng Kinh). Đó là một cách giữ cho hồn thơ, văn hóa Tày trong anh không bị mai một, không bị những trào lưu đồng hóa.
Anh không chỉ chăm lo cho mình mà còn đau đáu cho thế hệ các con. Con gái đầu của anh là kỹ sư kinh tế viễn thông nhưng đang theo học báo chí, còn cậu con trai thứ đang là họa sĩ cho một công ty truyền thông. Năm nào vào dịp hè, Tết anh cũng đưa các con về bản Hon để sống, tìm hiểu văn hóa Tày. Đó là một cách để con cái không quên nguồn cội.
Con gái anh thỉnh thoảng cũng viết văn, Dương Thuấn cảm thấy rất mừng khi con gái "có những trang văn miêu tả về bản Hon hay và đẹp hơn cả bố!". Đó là công sức của anh bao nhiêu ngày chắt chiu để có "quả sai". Trong đó, có những "quả sai" vô hình, vô giá "lưu danh muôn thuở". Dù vậy, anh vẫn không nguôi khao khát: "Tôi đem những bài thơ của mình đến với mọi người trên thế giới và họ sẽ hiểu về dân tộc Tày của tôi hơn"